Vì sao thịt nhập khẩu tăng mạnh?

Trong cả năm 2025, VN chi gần 2 tỉ USD để nhập khẩu thịt; nhưng mới qua nửa đầu năm 2026, kim ngạch nhập thịt đã lên tới 1,5 tỉ USD. VN đã nhập khẩu những loại thịt nào, nguồn gốc ra sao?

Nguồn gốc, cơ cấu thịt nhập khẩu

Theo thống kê của Cục Hải quan, trong năm 2025, VN đã nhập khẩu 1,95 tỉ USD thịt các loại, tăng 11,6% so với năm trước. Về cơ cấu mặt hàng, thịt trâu chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 31%, kế đó là thịt heo chiếm gần 22%, thứ ba là thịt gà (18%), kế tiếp là thịt bò (gần 13,7%) và phụ phẩm (chiếm 12,8%). Về nguồn gốc, Ấn Độ chiếm thị phần lớn nhất với gần 19% tổng lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập khẩu, khối lượng hơn 168.000 tấn, trị giá khoảng 602 triệu USD; kế đến là Nga, Brazil, Mỹ và Úc.

Tuy nhiên, mới qua 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của VN đạt 494.000 tấn, trị giá gần 1,5 tỉ USD, tăng gần 10% về lượng và tăng 36,4% về trị giá so cùng kỳ. Cơ cấu mặt hàng có sự thay đổi nhỏ khi gà (kể cả phụ phẩm) từ vị trí thứ 3 đã vọt lên hạng 1 với 186.400 tấn, kim ngạch khoảng 188 triệu USD, tăng 2,1% về lượng và 0,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu nhập khẩu, đùi gà đông lạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 130.000 tấn, tương đương hơn 70% tổng lượng nhập khẩu. Tiếp theo là cánh gà đông lạnh, chân gà và các phụ phẩm; trong khi gà nguyên con chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất với 63.300 tấn, trị giá đạt hơn 75 triệu USD, tăng 12% về lượng và tăng 14% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý là Thổ Nhĩ Kỳ chiếm vị trí thứ 2 với 29.600 tấn, trị giá đạt gần 19 triệu USD, tăng 261% về lượng và tăng 216% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Hàn Quốc đạt gần 27.000 tấn và Ba Lan đạt 20.000 tấn.

Vì sao thịt nhập khẩu tăng mạnh?- Ảnh 1.

Thịt heo và phụ phẩm chăn nuôi giá rẻ nhiều năm qua vẫn làm mưa làm gió trên thị trường

ẢNH: CHÍ NHÂN

Đáng nói, nửa đầu năm nay giá gà và trứng gia cầm trong nước thấp nhưng nhập khẩu lại tăng vọt. Giải thích về nghịch lý này, một số doanh nghiệp (DN) trong ngành cho biết, năm 2025 hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch giữa VN và Campuchia thuận lợi, giá nội địa của VN cũng tốt. Trên cơ sở đó, một số đơn vị nhập khẩu thị trường lạc quan trong năm 2026 nên tranh thủ ký hợp đồng khi giá thuận lợi. Đó là một phần nguyên nhân khiến nhập khẩu thịt gà tăng mạnh. Tuy nhiên năm nay, Campuchia siết hoạt động nhập khẩu nên các DN Việt cũng gặp nhiều khó khăn.

Thịt trâu nhập khẩu đứng thứ 2 với 108.000 tấn và thịt heo xếp hạng 3 với khoảng 80.000 tấn. Chỉ riêng trong quý 2/2026, VN nhập khẩu 42.600 tấn thịt heo, trị giá gần 93 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2025 tăng 23% về lượng và tăng 2,1% về trị giá. Brazil, Nga, Tây Ban Nha là 3 thị trường lớn nhất cung cấp thịt heo cho VN. Tây Ban Nha là nguồn cung lớn nhất với 13.300 tấn, Brazil đứng thứ 2 với 11.200 tấn, Nga xếp thứ 3 với 10.700 tấn. Thời gian qua, giá heo hơi nội địa liên tục lao dốc, một số thời điểm tiệm cận giá sàn sản xuất nhưng nhập khẩu thịt vẫn tăng. Nguyên nhân cơ bản vì thịt nhập rất rẻ, giá thịt heo nhập khẩu trung bình là 2.152 USD/tấn, giảm 18,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Vì sao thịt nhập khẩu tăng mạnh?- Ảnh 2.

Một thời các sản phẩm thải loại, kém chất lượng nhập khẩu tràn vào cả siêu thị

ẢNH: CHÍ NHÂN

Theo khảo sát của PV Thanh Niên, giá thịt đông lạnh như chân giò heo, đùi gà phổ biến chỉ 40.000 - 45.000 đồng/kg; các loại cánh gà, bò viên từ 65.000 - 75.000 đồng/kg, thịt heo và sườn heo 90.000 - 95.000 đồng/kg; các loại phế phụ phẩm còn có giá thấp hơn rất nhiều, tất cả đều "bao ship khu vực nội ô TP.HCM, bán kính 20 km". Thịt nhập quá nhiều cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá thịt heo trong nước đang ở mức thấp. Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, thông tin rằng hiện tại đợt nghỉ lễ lớn kéo dài đã cận kề nhưng giá heo hơi tại địa phương vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc, phổ biến 56.000 đồng/kg.

Thịt nhập đi đâu, cần kiểm soát thế nào?

Là người có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành thực phẩm, Th.S Đặng Hoàng Dự, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Ẩm thực TP.HCM, cho hay không phải toàn bộ thịt đông lạnh nhập khẩu được đưa trực tiếp ra chợ hoặc bán cho người tiêu dùng dưới dạng thịt tươi. Một phần quan trọng của thịt nhập khẩu được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. VN hiện có nhu cầu nguyên liệu thịt rất lớn cho việc sản xuất xúc xích, giò chả, thịt chế biến, đồ hộp, thực phẩm đông lạnh, thức ăn nhanh, suất ăn công nghiệp, nhà hàng, bếp ăn và nhiều nhóm sản phẩm khác.

Đối với một nhà máy thực phẩm, yêu cầu không đơn giản chỉ là có thịt để sản xuất mà còn cần nguyên liệu đúng chủng loại, đúng quy cách, tỷ lệ nạc - mỡ phù hợp, chất lượng đồng nhất, đáp ứng chỉ tiêu an toàn thực phẩm (ATTP), truy xuất được nguồn gốc, đủ sản lượng và được cung ứng ổn định theo kế hoạch sản xuất.

Vì sao thịt nhập khẩu tăng mạnh?- Ảnh 3.

Trong khi đó, chuỗi cung ứng thịt trong nước hiện chưa phải lúc nào cũng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của công nghiệp chế biến về sản lượng, quy cách pha lóc, mức độ đồng nhất, năng lực cấp đông, kho lạnh và khả năng cung ứng ổn định với khối lượng lớn. Do đó ở một số phân khúc, thịt đông lạnh nhập khẩu đang bổ sung nguồn nguyên liệu mà chuỗi cung ứng trong nước chưa đáp ứng đầy đủ. Nếu sản phẩm có nguồn gốc hợp pháp, được sản xuất tại cơ sở đáp ứng yêu cầu, được kiểm dịch và kiểm soát ATTP, bảo quản đúng điều kiện nhiệt độ, còn thời hạn sử dụng và duy trì tính toàn vẹn của chuỗi lạnh thì hoàn toàn là nguồn nguyên liệu phù hợp cho công nghiệp chế biến thực phẩm. Mặt khác thịt nhập tạo điều kiện cho DN chủ động kế hoạch tồn kho, ổn định công thức sản phẩm, tiêu chuẩn hóa nguyên liệu và giảm phụ thuộc vào biến động nguồn cung từng ngày.

Ở góc độ quản lý, nhiều ý kiến cho rằng cần kiểm soát thịt nhập tại cửa khẩu và bằng các tiêu chuẩn cao như những nước phát triển; bên cạnh đó là kiểm soát bằng hóa đơn đầu vào đầu ra của các DN. Ông Đặng Hoàng Dự nêu quan điểm: Đó là những biện pháp cần thiết và quan trọng nhưng vẫn chưa đầy đủ vì chúng ta chưa quản lý được toàn chuỗi và khả năng truy xuất sau khi hàng đã thông quan. Hệ thống quản lý cần từng bước kết nối được: từ lô nhập khẩu (mã lô, ngày sản xuất, hạn sử dụng) đến nhà nhập khẩu - kho lạnh - nhà phân phối đến cơ sở chế biến (nhà hàng/điểm bán) và sản phẩm cuối cùng. Đó mới là bản chất của truy xuất nguồn gốc (traceability). Khi xảy ra sự cố ATTP, cơ quan quản lý phải có khả năng truy ngược từ sản phẩm cuối cùng về lô nguyên liệu và cơ sở sản xuất; đồng thời truy xuôi để xác định một lô nguyên liệu đã được phân phối đến những đâu.

Một điểm đáng tham khảo trong cách quản lý của EU và nhiều thị trường phát triển là chuyển mạnh từ "quản lý từng sản phẩm/lô hàng" sang "quản lý toàn chuỗi và quản lý dựa trên rủi ro". Và thay vì chỉ hỏi "thịt đông lạnh nhập khẩu đi đâu?" thì phải hỏi "có truy xuất được toàn bộ hành trình từ lô nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng hay không?". Khi trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta vừa bảo vệ được sức khỏe người tiêu dùng, vừa bảo vệ DN làm ăn nghiêm túc và đồng thời tạo động lực để ngành thịt VN phát triển theo hướng công nghiệp, minh bạch và bền vững hơn.

Ông Đặng Hoàng Dự, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Ẩm thực TP.HCM

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.